đun sôi để nguội.
Chị dành từng đồng tiết kiệm gửi cho tôi, sợ tôi chịu thiệt, sợ tôi bị người ta coi thường.
Mùa đông năm nhất, Bắc Kinh có một trận tuyết lớn, nhiệt độ xuống dưới âm 10 độ, lạnh thấu xương. Tôi khi đó chỉ có một chiếc áo bông mỏng mang từ quê lên, không thể chống chọi nổi gió lạnh, mỗi ngày đi học đều run cầm cập, tay cứng đờ không viết nổi chữ.
Tôi không dám nói với nhà vì sợ họ lo. Nhưng vài ngày sau, tôi nhận được một bưu kiện lớn từ quê gửi lên.
Tôi mở ra, bên trong là một chiếc áo phao màu đen dày sụ, hai đôi giày bông và mấy đôi tất dày. Áo phao mới tinh, mềm mại và rất ấm, giày bông là do chị dâu tự khâu đế, dày dặn, đi vào ấm sực cả lòng.
Bạn cùng phòng đều ngưỡng mộ: “Triệu Đôn, mẹ cậu tốt quá, gửi cho cậu nhiều đồ thế này”.
Tôi cười đáp: “Không phải mẹ, là chị dâu tớ, chị ấy đối xử với tớ còn tốt hơn cả mẹ ruột”.
Sau này tôi mới biết, để làm hai đôi giày đó, chị dâu đã thức trắng mấy đêm. Ban ngày chị chăm sóc gia đình, làm ruộng, phụ việc ở siêu thị (lúc đó anh tôi đã khỏi chân và mở một tiệm tạp hóa nhỏ trong làng), chỉ buổi tối mới có thời gian may vá. Chị ngồi dưới đèn dầu, một mũi kim một sợi chỉ, tay bị lạnh đến mức mọc mụn nước, đỏ húp và ngứa ngáy, chị chỉ dùng nước nóng chườm rồi lại tiếp tục khâu.
Mẹ tôi kể, để mua chiếc áo phao đó, chị dâu đã bán sạch mười mấy con gà nuôi nửa năm trời để gom tiền lên huyện chọn chiếc áo đắt nhất, còn bản thân thì nhịn ăn, nhịn cả bát mì để về nhà.
Tôi mặc chiếc áo phao, đi đôi giày bông, đứng lặng trong tuyết rất lâu, nước mắt rơi xuống hóa thành những hạt băng nhỏ.
Hè năm hai, tôi không về nhà mà ở lại Bắc Kinh làm thêm để kiếm tiền. Một ngày nọ, tôi đột nhiên đau bụng dữ dội, mồ hôi vã ra như tắm, được bạn đưa vào viện, bác sĩ nói bị viêm ruột thừa cấp, phải phẫu thuật ngay.
Nằm trên giường bệnh, lòng tôi hoang mang tột độ, xung quanh không một người thân, tiền trong tay không đủ phẫu thuật. Tôi không dám nói với nhà, sợ chị dâu lo, nên mượn tiền bạn để làm phẫu thuật.
Sau phẫu thuật, tôi nằm một mình trong viện, không ai chăm sóc, ăn uống khó khăn, chỉ có thể gọi đồ ăn ngoài, vết mổ đau đến mức không thể trở mình. Lúc đó, tôi nhớ nhà, nhớ chị dâu da diết.
Kết quả là sáng ngày thứ ba, khi tôi vừa tỉnh dậy, tôi thấy một bóng dáng đứng ở cửa phòng bệnh. Đó là chị dâu.
Chị đeo một chiếc túi vải lớn, tóc tai rối bời, gương mặt mệt mỏi, mắt vằn tia máu, tay xách một phích giữ nhiệt. Thấy tôi tỉnh, chị vội vàng chạy đến, đặt đồ xuống, hỏi: “Đôn Tử, sao rồi? Còn đau không? Đói không? Chị hầm canh gà cho em đây”.
Tôi ngẩn người: “Chị dâu, sao chị lại lên đây? Sao chị biết em nằm viện?”.
Chị vừa múc canh vừa nói: “Chị gọi cho em nhưng bạn em nghe máy, bảo em phẫu thuật nên chị không yên tâm, đi ngay”.
Sau này tôi mới biết, chị nhận được điện thoại vào tối hôm trước. Chị vội vàng thu dọn đồ đạc, đi xe ba bánh từ làng ra thị trấn, từ thị trấn đi xe khách ra huyện, từ huyện đi tàu hỏa đến Trịnh Châu, rồi từ Trịnh Châu ngồi hơn 20 tiếng tàu hỏa chậm để đến Bắc Kinh.
Suốt chặng đường, chị không nỡ mua vé giường nằm mà ngồi ghế cứng suốt 20 tiếng không chợp mắt, tay ôm khư khư phích canh vì sợ canh bị nguội.
Đến Bắc Kinh, chị không biết đường, cứ cầm địa chỉ bạn tôi đưa mà hỏi đường, chuyển bao nhiêu chuyến xe buýt mới tìm thấy bệnh viện.
Một tuần đó, chị dâu chăm sóc tôi không rời một bước. Chị bưng bô, lau người, đút cơm, giặt quần áo, ngày ngày đổi món cho tôi, hầm canh gà, nấu cháo kê, hầm sườn, chăm sóc chu đáo từng li từng tí.
Những người cùng phòng bệnh nói với tôi: “Cậu thanh niên này, chị gái cậu tốt quá”.
Tôi đáp: “Đó là chị dâu tôi, là người thân thiết nhất đời tôi”.